Đề án sắp xếp thôn trên địa bàn xã Thạch Xuân

Dự thảo Đề án sắp xếp các thôn trên địa bàn xã Thạch Xuân được UBND xã trình HĐND xã xem xét, quyết định.

ĐỀ ÁN

SẮP XẾP THÔN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THẠCH XUÂN

 

PHẦN THỨ I

CĂN CỨ CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ

 

Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025; 

- Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15 ngày 11/10/2022 của Quốc hội; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở số 97/2025/QH15;

- Nghị định số 59/2023/NĐ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở;

- Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; 

- Kết luận số 210-KL/TW ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của HTCT trong thời gian tới;

- Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; 

- Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố;

Văn bản số 498-CV/TU ngày 26/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc triển khai thực hiện Kết luận số 34-KL/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

- Văn bản số 4930/UBND-NC2 ngày 29/5/2026 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện triển khai các nội dung liên quan đến việc sắp xếp thôn, tổ dân phố;

- Văn bản số 3142/SNV-XDCQ&TCBC ngày 29 /5/2026 của Sở nội vụ về việc hướng dẫn triển khai các nội dung liên quan đến việc sắp xếp thôn, tổ dân phố;

Công văn số 197/CV-ĐU ngày 29/5/2026 của Đảng ủy xã Thạch Xuân về triển khai thực hiện các nội dung sắp xếp thôn trên địa bàn xã;

- Kế hoạch số 79/KH-UBND, ngày 30/5/2026 của Ủy ban nhân dân xã Thạch Xuân về triển khai thực hiện sắp xếp, sáp nhập thôn trên địa bàn xã năm 2026.

 

PHẦN THỨ II

LÝ DO VÀ SỰ CẦN THIẾT SẮP XẾP THÔN

 

1. Lý do sắp xếp thôn

Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân xã Thạch Xuân đã tổ chức quản lý, điều hành các thôn hoạt động theo quy định. Hoạt động của thôn thông qua sự lãnh đạo, quản lý điều hành của cấp ủy chi bộ, các chi hội đoàn thể đã phát huy hiệu quả công tác vận động nhân dân tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tiếp thu, phản ánh ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và chính quyền các cấp đảm bảo sự ổn định từ cơ sở.

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, điều hành còn gặp nhiều khó khăn:

- Thực trạng quy mô thôn nhỏ, đội ngũ cán bộ đảm nhiệm công việc ở thôn thiếu ổn định, năng lực tổ chức, vận động quần chúng hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Bên cạnh đó đầu mối, kinh phí để triển khai nhiệm vụ đến các thôn nhiều nên ảnh hưng đến quá trình điều hành của UBND .

- Việc tìm nguồn nhân sự những người hoạt động không chuyên trách, các tổ chức tự quản ở thôn chuẩn bị cho kỳ đại hội chi bộ và các chi hội gặp nhiều khó khăn, vì phần lớn những người có điều kiện tham gia đều lớn tuổi, còn những người trẻ hơn chủ yếu lo làm kinh tế, ít quan tâm đến công tác thôn.

- Việc tổ chức các hoạt động phong trào thường gặp khó khăn do không có người tham gia.

2. Sự cần thiết sắp xếp thôn 

- Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn; đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển, yêu cầu quản lý dân cư, chuyển đổi số và xây dựng chính quyền cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

- Tinh gọn bộ máy, giảm chi phí, giảm nhân sự, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thôn, có điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng, hội họp thuận lợi hơn, dễ phát động các phong trào, dễ tập trung huy động nguồn lực để đầu tư hạ tầng đường dân sinh, hội trường thôn, có nguồn phát triển Đảng viên, khắc phục những khó khăn về nguồn nhân sự tham gia người hoạt động không chuyên trách ở thôn, các tổ chức tổ tự quản ở thôn, phù hợp với đặc điểm lịch sử, truyền thống ở một số thôn tập trung lâu đời.

Sắp xếp, sáp nhập thôn bảo đảm sự chỉ đạo toàn diện của chi bộ, sự hoạt động hiệu quả của thôn, sự phối hợp công tác vận động của Ban công tác Mặt trận, các đoàn thể thônĐảm bảo đội ngũ cán bộ thực sự có năng lực, trách nhiệm uy tín để lãnh đạo, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chủ trương Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương;

Việc sắp xếp thôn phải được xem xét trên cơ sở lợi ích chung của toàn xã, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ và lâu dài; không cục bộ theo từng thôn, từng khu vực hoặc chỉ giải quyết lợi ích riêng của một bộ phận dân cư. Quá trình xây dựng phương án cần cân đối hài hòa giữa các địa bàn, bảo đảm sự hợp lý về quy mô dân số, số hộ, diện tích, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng quản lý, điều hành của thôn mới sau sắp xếp. Về đất sản xuất nông nghiệp, tiếp tục giữ nguyên hiện trạng sử dụng như hiện nay, không thực hiện điều chỉnh sau sắp xếp, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân ổn định và duy trì hoạt động sản xuất.

Về cơ sở vật chất sau sắp xếp: Việc xác định vị trí nhà văn hóa của thôn mới phải được nghiên cứu, khảo sát kỹ hiện trạng dân cư, hạ tầng giao thông, phạm vi phục vụ và nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của Nhân dân, bảo đảm thuận lợi cho đi lại, hội họp và tổ chức các hoạt động tại khu dân cư. Trung tâm thôn mới được xác định theo định hướng phát triển lâu dài, phù hợp với quy hoạch chung của xã trong thời gian tới.

- Tên gọi thôn mới cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, bảo đảm phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hóa, địa danh của địa phương, mang tính đại diện; ưu tiên kế thừa những tên gọi có giá trị lịch sử, gắn với quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng dân cư và lịch sử Đảng bộ xã, góp phần giữ gìn bản sắc, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân sau sắp xếp. Đồng thời, ưu tiên xem xét sử dụng một số tên gọi của các xã cũ trước khi sáp nhập, như: Nam Hương, Thạch Điền, Nam Điền để đặt tên cho thôn mới nhằm bảo tồn các địa danh đã gắn bó lâu dài với đời sống của Nhân dân, bảo đảm tính kế thừa, liên tục sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.

Trên cơ sở chỉ đạo của UBND tỉnh, xã Thạch Xuân tổ chức sắp xếp, sáp nhập thôn thì việc tổ chức, hoạt động cũng như cơ sở vật chất bớt khó khăn hơn; công tác tuyên truyền, vận động sức người, sức của trong nhân dân thuận tiện hơn, tập trung hơn;

Xuất phát từ những lý do và sự cần thiết nêu trên, Ủy ban nhân dân xã Thạch Xuân xây dựng đề án sắp xếp, sáp nhập các thôn trình cấp có thẩm quyết định.

 

PHẦN THỨ III

NỘI DUNG SẮP XẾP THÔN

 

I. Thực trạng chung

1. Thực trạng xã 

Xã Thạch Xuân được sáp nhập từ xã Nam Điền và xã Thạch Xuân (cũ) theo Nghị quyết số 1665/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xã có diện tích tự nhiên 72,53 km2, 22 thôn, với 4.136 hộ dân, 15.915 nhân khẩu thường trú và 91 nhân khẩu tạm trú (số liệu tính đến ngày 22/5/2026). 

Mặc dù hệ thống giao thông, điện, nước sinh hoạt và các thiết chế văn hóa cơ bản đáp ứng nhu cầu của Nhân dân, tuy nhiên quy mô các thôn hiện nay còn nhỏ, phân tán, nhiều thôn có số hộ thấp hơn tiêu chí theo quy định của Nghị định số 185/2026/NĐ-CP. Việc đầu tư, khai thác các thiết chế văn hóa, hạ tầng phục vụ cộng đồng ở một số thôn chưa phát huy hết hiệu quả, dẫn đến phân tán nguồn lực trong quản lý và đầu tư.

Hiện nay 22/22 thôn đều có đầy đủ các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn (Bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng ban công tác Mặt trận thôn), các chi hội, chi đoàn và tổ chức đoàn thể theo quy định. Đội ngũ cán bộ thôn cơ bản có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết, gắn bó với địa bàn và hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay, đa số người hoạt động không chuyên trách ở thôn có độ tuổi cao, khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số còn hạn chế, trong khi yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ quản lý, điều hành, báo cáo, cập nhật dữ liệu trên môi trường số ngày càng cao. Quy mô nhiều thôn còn nhỏ, số lượng hội viên ít, địa bàn hoạt động hẹp nên việc tổ chức phong trào ở một số nơi còn thiếu sức lan tỏa, hiệu quả hoạt động chưa đồng đều; số lượng đầu mối tổ chức nhiều dẫn đến phân tán nguồn lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Điều này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở khu dân cư, đặt ra yêu cầu cần sắp xếp, tổ chức lại thôn nhằm giảm đầu mối, tập trung nguồn lực, lựa chọn đội ngũ cán bộ thôn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

  2. Thực trạng thôn 

2.1. Về số lượng thôn

- Toàn xã có 22 thôn; trong đó:

+ 21 thôn không đảm bảo quy mô hộ gia đình theo quy định (dưới 350 hộ).

+ 01 thôn đảm bảo quy mô số hộ gia đình theo quy định (359 hộ).

2.2. Về tổ chức đảng, chính quyền và các chi hội, đoàn thể ở thôn

- Toàn cấp xã có 22 chi bộ thôn; không có chi bộ phải sinh hoạt ghép.

- Toàn xã có 258 người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn (38 Phó Bí thư, chi ủy viên chi bộ; 110 Chi hội trưởng các chi hội, chi đoàn ở thôn; 22 thôn đội trưởng; 22 y tế thôn; 66 tổ an ninh trật tự); không có Phó trưởng thôn, không có Phó Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn.

2.3. Về người hoạt động không chuyên trách và người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn.

- Hiện nay, toàn xã có 22 thôn với tổng số người hoạt động không chuyên trách ở thôn là 50 người (trong đó Bí thư chi bộ 22 người, Trưởng thôn 22 người, Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn 06 người).

- Có 16 người hoạt động không chuyên trách kiêm nhiệm (mô hình Bí thư chi bộ kiêm Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn). Hiện không khuyết chức danh nào.

- Toàn xã có 258 người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn (38 Phó Bí thư, chi ủy viên chi bộ; 110 Chi hội trưởng các chi hội Phụ nữ, Hội CCB, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, Người cao tuổi; 22 thôn đội trưởng; 22 y tế thôn; 66 tổ an ninh trật tự); không có Phó trưởng thôn, không có Phó Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn.

- Số liệu cụ thể như sau:

 

TT

Tên thôn

Số hộ gia đình

Số nhân khẩu

Số người hoạt động KCT

Số người tham gia trực tiếp

Nhà sinh hoạt CĐ

Đạt, không đạt(theo NĐ số 185/2026/NĐ-CP)

Đạt

Không đạt

1

Thôn Lộc Nội

359

1.270

3

12

X

 

2

Thôn Nam Lĩnh

290

1.273

2

10

 

X

3

Thôn Tân Thanh

282

933

2

11

 

X

4

Thôn Quyết Tiến

266

924

3

12

 

X

5

Thôn Đồng Sơn

264

926

3

12

 

X

6

Thôn Đông Sơn

246

870

3

12

 

X

7

Thôn Qúy Linh

234

894

3

12

 

X

8

Thôn Tân Lộc

227

1.021

2

11

 

X

9

Thôn Tân Đông

220

921

2

10

 

X

10

Thôn Lộc Hồ

205

833

2

12

 

X

11

Thôn Trung Long

201

823

2

12

 

X

12

Thôn Tùng Sơn

157

599

2

12

 

X

13

Thôn Đồng Xuân

154

558

3

12

 

X

14

Thôn Tùng Lâm

151

624

2

12

 

X

15

Thôn Phúc Điền

142

608

2

12

 

X

16

Thôn Hưng Hòa

133

510

2

12

 

X

17

Thôn Thống Nhất

133

514

2

12

 

X

18

Thôn Yên Thượng

119

502

2

12

 

X

19

Thôn Hòa Bình

105

426

2

12

 

X

20

Thôn Việt Yên

85

337

2

12

 

X

21

Thôn Lâm Hưng

82

335

2

12

 

X

22

Thôn Tân Sơn

81

305

2

12

 

X

Tổng cộng

4.136

16.006

50

258

 

01

21

- Số lượng thôn không đảm bảo tiêu chuẩn: 21 thôn. Trong đó đề nghị sắp xếp 21 thôn; đề nghị giữ nguyên 01 thôn (thôn Lộc Nội)Thôn Lộc Nội hiện đã bảo đảm tiêu chí về số hộ theo quy định, có địa bàn ổn định, dân cư tập trung, thuận lợi trong công tác quản lý, điều hành cũng như tổ chức các hoạt động cộng đồng, vì vậy đề xuất giữ nguyên hiện trạng.

3. Phương án sắp xếp các thôn 

3.1. Thôn Đồng XuânSáp nhập Thôn Đồng Sơn (264 hộ/926 nhân khẩu), Thôn Đồng Xuân (154 hộ/558 nhân khẩu) và một phần Thôn Quý Linh (thôn Đồng Linh cũ gồm tổ liên gia 1,2,3,4, với 124 hộ/484 nhân khẩu). Quy mô sau sắp xếp 542 hộ, 1.961 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Đồng Sơn.

Đồng Xuân, Đồng Sơn và khu vực Đồng Linh cũ có sự gắn kết chặt chẽ về vị trí địa lý, đời sống sinh hoạt và sản xuất của Nhân dân. Các khu vực này nằm trên cùng một dải dọc trục đường xã. Đặc biệt, dòng khe từ Khe Xai chảy về Cửa Ải tạo thành ranh giới tự nhiên, chia Thôn Quý Linh hiện nay thành hai khu vực tương đối độc lập. Trong đó, khu vực Đồng Linh cũ nằm cùng phía với Thôn Đồng Xuân và Thôn Đồng Sơn, người dân ở đây có mối liên hệ mật thiết trong sinh hoạt, sản xuất và giao lưu cộng đồng. Người dân khu vực này chủ yếu có nguồn gốc từ xã Thạch Đồng trước đây di cư lên sinh sống, có nhiều nét tương đồng về phong tục tập quán, văn hóa và đời sống cộng đồng. Do đó, việc đưa khu vực Đồng Linh cũ vào sắp xếp cùng Thôn Đồng Xuân và Thôn Đồng Sơn là phù hợp với thực tiễn địa bàn, bảo đảm tính liên kết cộng đồng và thuận lợi cho công tác quản lý lâu dài.

Tên gọi “Đồng Xuân”: Khu vực này có phần lớn dân cư là các hộ dân từ xã Thạch Đồng trước đây đến sinh sống, lập nghiệp. Tên gọi “Đồng Xuân” được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa yếu tố nguồn gốc cộng đồng dân cư (“Đồng”) và địa danh hiện tại (“Xuân”), vừa phản ánh quá trình hình thành khu dân cư, vừa thể hiện sự gắn kết giữa truyền thống quê hương cũ với nơi ở mới của người dân.

Nhà văn hóa thôn Đồng Sơn hiện có khuôn viên rộng rãi, vị trí thuận lợi, có cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức hội họp, sinh hoạt cộng đồng với sức chứa khoảng 200 chỗ ngồi; các thiết chế văn hóa được đầu tư tương đối đầy đủ. Việc lựa chọn nhà văn hóa thôn Đồng Sơn làm nơi sinh hoạt của thôn mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân trong đi lại, tham gia hội họp, sinh hoạt cộng đồng và tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn.

3.2. Thôn Bắc Xuân: Sáp nhập Thôn Đông Sơn (246 hộ/870 nhân khẩu) và một phần Thôn Quý Linh (thôn Quý Sơn cũ gồm tổ liên gia 5,6,7,8,9, với 110 hộ/410 nhân khẩu). Quy mô sau sắp xếp 356 hộ, 1.279 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Đông Sơn.

Khu vực Quý Sơn cũ là phần còn lại của Thôn Quý Linh sau bị chia tách tự nhiên bởi dòng khe Cửa Ải. Khu vực này nằm ở phía bên kia khe, có địa giới hành chính liền kề và kết nối trực tiếp với Thôn Đông Sơn. Trong quá trình sinh sống lâu dài, người dân khu vực Quý Sơn cũ và Thôn Đông Sơn có nhiều mối liên hệ về sản xuất, giao thông đi lại và các hoạt động cộng đồng. Việc sắp xếp theo phương án này vừa bảo đảm tiêu chí về quy mô thôn theo quy định, vừa phù hợp với đặc điểm địa lý tự nhiên, hạn chế việc quản lý địa bàn bị chia cắt bởi ranh giới tự nhiên, đồng thời bảo đảm sự ổn định và tính gắn kết cộng đồng dân cư sau sắp xếp.

Tên gọi Bắc Xuân: trước khi thành lập xã Thạch Xuân, thôn Đông Sơn và Quý Sơn cũ thuộc địa bàn HTX Bắc Xuân (gồm Đông Sơn, Quý Linh, Đồng Xuân, Đồng Sơn). Tên gọi “Bắc Xuân” đã gắn liền với quá trình hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, có ý nghĩa về lịch sử, truyền thống và được đông đảo Nhân dân biết đến. Vì vậy, việc lựa chọn tên thôn mới là “Bắc Xuân” nhằm kế thừa yếu tố lịch sử, giữ gìn bản sắc và thể hiện sự tôn trọng nguồn gốc hình thành của cộng đồng dân cư trên địa bàn.

Nhà văn hóa thôn Đông Sơn hiện có khuôn viên rộng rãi, vị trí thuận lợi, trung tâm khu vực thôn mới sau sắp xếp. Cơ sở vật chất và các thiết chế văn hóa cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức hội họp, sinh hoạt cộng đồng với khoảng 200 chỗ ngồi, thuận lợi cho Nhân dân đi lại, tham gia các hoạt động và tổ chức các phong trào tại khu dân cư.

3.3. Thôn Nam Xuân: Sáp nhập Thôn Tân Thanh (282 hộ/933 nhân khẩu) và phần lớn của Thôn Quyết Tiến (tổ liên gia 3,4,5,6,7,8, với 216 hộ/748 nhân khẩu). Quy mô sau sắp xếp 498 hộ, 1.654 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Quyết Tiến.

Một phần diện tích và dân số của Thôn Quyết Tiến (khu vực phía trên kênh N1) cùng với Thôn Tân Thanh có chung trục đường từ khu vực Đảng ủy lên Quyết Tiến, thuận lợi cho giao thông kết nối và sinh hoạt của Nhân dân. Người dân hai khu vực có nhiều nét tương đồng về phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt và cùng sản xuất trên các cánh đồng liền vùng.

Tên gọi Nam Xuân: Trước khi thành lập xã Thạch Xuân, khu vực này thuộc địa bàn HTX Nam Xuân. Tên gọi “Nam Xuân” đã gắn liền với quá trình hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, có ý nghĩa về lịch sử, truyền thống và được đông đảo Nhân dân biết đến. Vì vậy, việc lựa chọn tên thôn mới là “Nam Xuân” nhằm kế thừa yếu tố lịch sử, giữ gìn bản sắc và thể hiện sự tôn trọng nguồn gốc hình thành của cộng đồng dân cư trên địa bàn.

Nhà văn hóa thôn Quyết Tiến hiện có cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức hội họp, sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động của thôn mới sau sắp xếp. Đối với nhà văn hóa thôn Tân Thanh hiện nay, tiếp tục quản lý, khai thác làm điểm sinh hoạt của cụm dân cư, phục vụ các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hội họp và các nhu cầu sinh hoạt cộng đồng khác của Nhân dân trong khu vực.

3.4. Thôn Lộc Nội: Giữ nguyên Thôn Lộc Nội; quy mô 359 hộ, 1.262 nhân khẩu thường trú. Trụ sở: NVH thôn Lộc Nội.

Thôn Lộc Nội hiện đã bảo đảm tiêu chí về số hộ theo quy định, có địa bàn ổn định, dân cư tập trung, thuận lợi trong công tác quản lý, điều hành cũng như tổ chức các hoạt động cộng đồng, vì vậy đề xuất giữ nguyên hiện trạng.

3.5. Thôn Nam Hương: Sáp nhập Thôn Thống Nhất (133 hộ/514 nhân khẩu), Thôn Hòa Bình (105 hộ/426 nhân khẩu), Thôn Việt Yên (85 hộ/337 nhân khẩu) và một phần Thôn Quyết Tiến (thôn Phú Quý cũ gồm tổ liên gia 1,2, với 50 hộ/173 nhân khẩu). Quy mô sau sắp xếp 373 hộ, 1.445 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Thống Nhất.

Khu vực thôn mới có địa giới hành chính cơ bản nằm dọc tuyến kênh N1, có Quốc lộ 8C chạy qua, thuộc vùng bán sơn địa. Nhân dân chủ yếu phát triển sản xuất nông nghiệp, trồng rừng và có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái (các khu sinh thái trên địa bàn đều tập trung tại thôn Thống Nhất). Bên cạnh đó, thôn Thống Nhất và 01 phần thôn Quyết Tiến (thôn Phú Quý cũ) phần lớn là người dân Thạch Môn di dân đến, từ trước tới nay đều sinh hoạt chung với nhau, lấy chung một nguồn nước để phục vụ sản xuất. Việc sắp xếp các thôn trong khu vực này bảo đảm tính liên kết vùng, thuận lợi trong tổ chức sản xuất và định hướng phát triển kinh tế lâu dài của xã.

- Tên gọi Nam Hương: Trước đây, khu vực các thôn Thống Nhất, Hòa Bình và Việt Yên đều thuộc địa bàn thôn Nam Hương cũ. Đồng thời, “Nam Hương” cũng là tên gọi của xã Nam Hương trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của vùng đất và cộng đồng dân cư địa phương qua nhiều thế hệ.

Nhà văn hóa của các thôn trong khu vực hiện nay đều có quy mô tương đối nhỏ, cơ sở vật chất chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của từng thôn trước khi sắp xếp, chưa bảo đảm phục vụ đầy đủ cho quy mô dân số của thôn mới sau sáp nhập. Trước mắt, lựa chọn Nhà văn hóa thôn Thống Nhất làm địa điểm sinh hoạt của thôn mới do có khuôn viên rộng hơn các NVH khác, diện tích đất có thể mở rộng, phù hợp với quy hoạch chung của xã. Về lâu dài, UBND xã sẽ nghiên cứu, đánh giá nhu cầu thực tế, quy mô dân cư và điều kiện phát triển của thôn để đề xuất phương án đầu tư, nâng cấp hoặc xây dựng nhà văn hóa phù hợp, đáp ứng yêu cầu sinh hoạt cộng đồng trong giai đoạn tiếp theo.

3.6. Thôn Nam Sơn: Sáp nhập Thôn Tân Sơn (81 hộ/305 nhân khẩu), Thôn Lâm Hưng (82 hộ/335 nhân khẩu), Thôn Yên Thượng (119 hộ/502 nhân khẩu) và một phần Thôn Hưng Hòa (70 hộ/269 nhân khẩu, gồm: tổ liên gia 1,2, 3 và 7 hộ của thôn Vòng cũ). Quy mô sau sắp xếp 352 hộ, 1.403 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Yên Thượng.

Các thôn thuộc khu vực này có địa giới hành chính liền kề, nằm dọc tuyến Tỉnh lộ 553 và có Quốc lộ 8C kết nối các khu dân cư. Nhân dân chủ yếu phát triển chăn nuôi, trồng rừng và có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái. Việc đưa một phần diện tích và dân số của thôn Hưng Hòa (thôn Tân Hòa cũ, giáp đất thôn Yên Thượng bám theo đường wB đi theo đường tỉnh lộ 553 về phía Tân Sơn) vào sắp xếp là phù hợp với địa bàn sản xuất, sinh hoạt của Nhân dân. Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp còn lại của Thôn Hưng Hòa (thôn Vòng cũ, giáp Tân Sơn) hiện phục vụ chủ yếu cho hoạt động sản xuất, trồng rừng của người dân nên việc sắp xếp theo phương án này là phù hợp thực tiễn địa bàn và nhu cầu sản xuất của Nhân dân. Bên cạnh đó, người dân khu vực này phần lớn có nguồn gốc từ xã Thạch Hưng trước đây đến lập nghiệp, có sự tương đồng về phong tục tập quán, đời sống văn hóa, quan hệ dòng họ và sinh hoạt cộng đồng. Việc sắp xếp các khu dân cư này thành một thôn mới không chỉ bảo đảm tiêu chí về quy mô hộ gia đình mà còn giữ được tính gắn kết cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi trong công tác quản lý, điều hành, tổ chức các phong trào ở cơ sở.

Tên gọi “Nam Sơn” được kế thừa từ tên gọi của HTX Nam Sơn trước đây, gồm khu vực các thôn Tân Sơn, Lâm Hưng và Yên Thượng hiện nay. Đây là địa danh đã gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng dân cư trong khu vực qua nhiều giai đoạn, có ý nghĩa về lịch sử, truyền thống và được đông đảo Nhân dân biết đến. Đồng thời, phần diện tích và dân số đưa vào sắp xếp từ thôn Hưng Hòa chủ yếu là các hộ dân có nguồn gốc từ xã Thạch Hưng trước đây, có quá trình sinh sống, giao lưu và gắn bó lâu dài với cộng đồng dân cư khu vực Nam Sơn. Vì vậy, tên gọi “Nam Sơn” cũng có tính đại diện, phù hợp với lịch sử hình thành và đặc điểm cộng đồng dân cư của thôn mới sau sắp xếp.

Nhà văn hóa thôn Yên Thượng hiện đã xuống cấp, quy mô còn nhỏ và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu sinh hoạt của thôn mới sau sắp xếp, tuy nhiên ở đây vị trí tương đối trung tâm, nằm giữa khu vực Lâm Hưng và Hưng Hòa, hệ thống giao thông kết nối thuận lợi, tạo điều kiện thuận tiện cho Nhân dân đi lại, tham gia hội họp và các hoạt động cộng đồng. Đối với khu vực Tân Sơn, mặc dù có diện tích tự nhiên rộng nhưng dân cư phân bố không tập trung, số hộ không lớn. Vì vậy, trước mắt lựa chọn Nhà văn hóa thôn Yên Thượng làm nơi sinh hoạt của thôn mới; đồng thời UBND xã sẽ nghiên cứu phương án sửa chữa, nâng cấp hoặc đầu tư cơ sở vật chất phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng trong thời gian tới.

3.7. Thôn Nam Điền: Sáp nhập Thôn Tùng Sơn (157 hộ/599 nhân khẩu), Thôn Tùng Lâm (151 hộ/624 nhân khẩu) và một phần Thôn Hưng Hòa (gồm tổ liên gia số 4,5, với 63 hộ/93 nhân khẩu). Quy mô sau sắp xếp 371 hộ, 1.461 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Tùng Lâm.

Khu vực dân cư tập trung chủ yếu tại Thôn Tùng Lâm, Thôn Tùng Sơn và phần lớn diện tích, dân cư của Thôn Hưng Hòa (thôn Tân Hưng cũ, khu vực từ phía trên Trạm bù đến kênh N1). Từ trước đến nay, các thôn này có mối liên kết cộng đồng chặt chẽ, đời sống sinh hoạt gần gũi, cùng sản xuất trên chung một cánh đồng và có nhiều nét tương đồng về phong tục tập quán. 

Tên gọi “Nam Điền” được lựa chọn trên cơ sở kế thừa tên gọi của xã Nam Điền cũ trước khi sáp nhập. Đồng thời, khu vực các thôn Tùng Sơn và Tùng Lâm hiện nay trước đây thuộc địa bàn HTX Nam Điền; phần diện tích và dân số đưa vào sắp xếp từ thôn Hưng Hòa cũng có mối liên hệ chặt chẽ với khu vực Tùng Lâm, Tùng Sơn trong quá trình sinh sống, lao động và sinh hoạt cộng đồng. Bên cạnh đó, khu vực này nằm ở phía Nam của xã Thạch Xuân hiện nay nên tên gọi “Nam Điền” cũng phù hợp với đặc điểm vị trí địa lý của địa bàn.

Nhà văn hóa thôn Tùng Lâm mới được xây dựng, có khuôn viên rộng rãi, cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức hội họp, sinh hoạt cộng đồng; nằm tương đối trung tâm giữa các khu vực Tùng Sơn và Hưng Hòa, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân đi lại và tham gia các hoạt động chung của thôn mới sau sắp xếp. Trong thời gian tới, chỉ cần đầu tư bổ sung một số hạng mục như mái che, sân và cổng để hoàn thiện cơ sở vật chất, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hội họp, sinh hoạt của Nhân dân.

3.8. Thôn Thạch Điền: Sáp nhập Thôn Lộc Hồ (205 hộ/833 nhân khẩu), Thôn Phúc Điền (142 hộ/608 nhân khẩu) và Thôn Tân Đông (220 hộ/921 nhân khẩu). Quy mô sau sắp xếp 567 hộ, 2.347 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Phúc Điền.

Các thôn thuộc khu vực này có địa giới hành chính liền kề, có chung tuyến Tỉnh lộ 553, dân cư tập trung tương đối đông, hệ thống giao thông kết nối thuận lợi và có mối liên hệ chặt chẽ trong sinh hoạt, giao thương và phát triển kinh tế. Sau sắp xếp, thôn có quy mô số hộ tương đối lớn (567 hộ); tuy nhiên diện tích tự nhiên không quá rộng (khoảng hơn 250 ha), địa bàn dân cư tập trung. Bên cạnh việc bảo đảm tiêu chí theo quy định, UBND xã cũng xem xét đến định hướng phát triển không gian kinh tế của địa phương trong tương lai. Đây là khu vực có Chợ Đồn, các cơ sở kinh doanh, siêu thị và các hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển tương đối sôi động. Trong định hướng phát triển lâu dài, khu vực từ cây xăng Bảo Chung đến Chợ Đồn được xác định là vùng có tiềm năng phát triển dịch vụ, thương mại, nhà hàng, siêu thị và các ngành nghề phi nông nghiệp. Việc hình thành một thôn có quy mô lớn tại khu vực này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng, phát triển dịch vụ - thương mại và từng bước hình thành khu dân cư tập trung.

Tên gọi thôn Thạch Điền: Khu vực thôn mới nằm trên địa bàn có bề dày lịch sử, gắn với khu vực Chợ Đồn - một trung tâm dân cư, giao thương được hình thành từ lâu đời. Đồng thời, đây cũng là khu vực trung tâm của xã Thạch Điền trước đây, nơi đặt trụ sở làm việc của xã qua nhiều thời kỳ. Tên gọi “Thạch Điền” cũng là tên của đơn vị hành chính cấp xã trước khi sáp nhập, đã gắn bó với quá trình hình thành, phát triển của địa phương và được đông đảo Nhân dân biết đến. 

Nhà văn hóa thôn Phúc Điền có vị trí tương đối trung tâm của khu vực thôn mới sau sắp xếp, thuận lợi cho Nhân dân 3 thôn này đi lại, tham gia hội họp và các hoạt động cộng đồng. Mặc dù diện tích khuôn viên còn hạn chế, nhưng trước mắt cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của thôn mới; về lâu dài sẽ tiếp tục được rà soát, nâng cấp phù hợp với quy mô dân cư.

3.9. Thôn Trung Điền: Sáp nhập Thôn Nam Lĩnh (290 hộ/1.273 nhân khẩu) và một phần Thôn Tân Lộc (gồm tổ liên gia số 5,6,7,8, với 72 hộ/260 nhân khẩu, chạy từ đường tỉnh lộ 17 bám đường vào UBND xã, đến ngã 6 rẽ phải theo đường bờ kênh N1-5, đến nhà bác Mông). Quy mô sau sắp xếp 362 hộ, 1.530 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Nam Lĩnh.

Người dân khu vực này có nhiều xứ đồng sản xuất chung, dân cư sinh sống đan xen và có nhiều tuyến giao thông kết nối; Một số hộ dân Thôn Tân Lộc khu vực này cùng sinh hoạt chung với bà con thôn Nam Lĩnh. Do có địa giới hành chính liền kề, quá trình sinh sống lâu dài đã hình thành sự giao thoa về văn hóa, phong tục tập quán và các mối quan hệ cộng đồng giữa Nhân dân khu vực này.

Tên gọi thôn Trung Điền: trên cơ sở kế thừa yếu tố lịch sử, văn hóa. Trước đây, khu vực này một phần thuộc Hợp tác xã Trung Điền, tên gọi Trung Điền đã gắn bó với quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng dân cư và được nhiều người dân biết đến, sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày. 

Nhà văn hóa thôn Nam Lĩnh quy mô còn nhỏ và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu sinh hoạt của thôn mới sau sắp xếp, tuy nhiên ở đây vị trí khu vực dân cư tập trung chủ yếu tại địa bàn thôn Nam Lĩnh, tạo điều kiện thuận tiện cho Nhân dân đi lại, tham gia hội họp và các hoạt động cộng đồng. Vì vậy, trước mắt lựa chọn Nhà văn hóa thôn Nam Lĩnh làm nơi sinh hoạt của thôn mới; đồng thời UBND xã sẽ nghiên cứu phương án sửa chữa, nâng cấp hoặc đầu tư cơ sở vật chất phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng trong thời gian tới.

3.10. Thôn Tây Điền: Sáp nhập Thôn Trung Long (201 hộ/823 nhân khẩu) và phần lớncòn lại của Thôn Tân Lộc (gồm tổ liên gia số 1,2,3,4, với 155 hộ/761 nhân khẩu); quy mô sau sắp xếp 356 hộ, 1.573 nhân khẩu thường trú. Trụ sở mới: NVH thôn Trung Long.

Khu vực này có địa giới hành chính liền kề. Người dân hai khu vực có nhiều mối liên hệ trong đời sống sinh hoạt, nhà văn hóa Thôn Trung Long hiện nằm ở vị trí tương đối trung tâm, thuận lợi cho việc tổ chức hội họp, sinh hoạt cộng đồng và triển khai các nhiệm vụ ở khu dân cư sau sắp xếp. Đồng thời, khu vực này có điều kiện thuận lợi để mở rộng không gian dân cư. Việc sắp xếp theo phương án này bảo đảm tính liền vùng, liền tuyến, tạo thuận lợi cho công tác quản lý địa bàn, tổ chức các hoạt động cộng đồng; đồng thời bảo đảm quy mô thôn phù hợp theo quy định.

Tên gọi “Tây Điền” được kế thừa từ tên gọi của HTX Tây Điền trước đây, gồm khu vực các thôn Trung Long và Tân Lộc hiện nay. Đây là địa danh đã gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng dân cư trong khu vực qua nhiều giai đoạn và được Nhân dân biết đến, sử dụng rộng rãi. 

Nhà văn hóa thôn Trung Long rộng rãi, có vị trí tương đối trung tâm, thuận lợi cho Nhân dân đi lại và tham gia các hoạt động cộng đồng. Khu vực thôn Trung Long có diện tích lớn hơn, dân cư đông hơn so với thôn Tân Lộc, sẽ thuận lợi cho việc tổ chức hội họp, sinh hoạt văn hóa và triển khai các hoạt động của thôn mới sau sắp xếp.

  • Cụ thể như sau:

 

TT

Tên thôn sau sắp xếp

Được sắp xếp từ các thôn

Số hộ

Số hộ sau sắp xếp (Gồm thường trú và tạm trú)

Số dân sau sắp xếp (Gồm thường trú và tạm trú)

Địa điểm đặt NVH

  
  

1

Thôn Bắc Xuân (Hoặc Đồng Xuân)

Thôn Đồng Sơn

264

542

1.968

NVH Đồng Sơn

  

Thôn Đồng Xuân

154

  

1 phần của thôn Quý Linh (thôn Đồng Linh cũ, gồm tổ liên gia 1,2,3,4)

124

  

2

Thôn Đông Sơn (Hoặc Quý Sơn)

Thôn Đông Sơn

246

356

1.280

NVH Đông Sơn

  

1 phần của thôn Quý Linh (thôn Quý Sơn cũ, gồm tổ liên gia 5,6,7,8,9)

110

  

3

Thôn Nam Xuân

Thôn Tân Thanh

282

498

1.681

NVH Quyết Tiến

  

1 phần của thôn Quyết Tiến (tổ liên gia số 3,4,5,6,7,8)

216

  

4

Thôn Lộc Nội

Thôn Lộc Nội

359

359

1.270

NVH Lộc Nội

  

5

Thôn Nam Hương

Thôn Thống Nhất

133

373

1,450

NVH Thống Nhất

  

Thôn Hòa Bình

105

  

Thôn Việt Yên

85

  

1 phần của Thôn Quyết Tiến (thôn Phú Quý cũ, gồm tổ liên gia 1,2)

50

  

6

Thôn Nam Sơn

Thôn Tân Sơn

81

352

1.411

NVH Yên Thượng

  

Thôn Lâm Hưng

82

  

Thôn Yên Thượng

119

  

1 phần của Thôn Hưng Hòa (Tân Hòa cũ gồm tổ liên gia 1,2,3 và thôn Vòng cũ)

70

  

7

Thôn Nam Điền

Thôn Tùng Sơn

157

371

1.467

NVH Tùng Lâm

  

Thôn Tùng Lâm

151

  

1 phần của Thôn Hưng Hòa (Tân Hưng cũ, gồm tổ liên gia số 4,5)

63

  

8

Thôn Thạch Điền 

Thôn Lộc Hồ

205

567

2.362

NVH Phúc Điền

  

Thôn Phúc Điền

142

  

Thôn Tân Đông

220

  

9

Thôn Nam Lĩnh

01 phần của thôn Tân Lộc (tổ liên gia số 5,6,7,8)

72

362

1.533

NVH Nam Lĩnh

  

Thôn Nam Lĩnh

290

  

10

Thôn Tây Điền

Thôn Trung Long

201

356

1.584

NVH Trung Long

  

01 phần của thôn Tân Lộc (tổ liên gia số 1,2,3,4)

155

  

 

TỔNG

 

4.136

4.136

16.006

   

 

II. Đánh giá hiệu quả sau khi sắp xếp, sáp nhập thôn 

1. Hiệu quả về công tác quản lý địa bàn, tinh gọn bộ máy, đầu mối, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và hoạt động Ban Công tác Mặt trận.

Việc sắp xếp, sáp nhập thôn đã góp phần tinh gọn tổ chức bộ máy ở khu dân cư, giảm mạnh đầu mối quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Sau sắp xếp, quy mô các thôn được mở rộng, bảo đảm tiêu chí theo quy định; 10/10 thôn đều có quy mô từ 350 hộ gia đình trở lên, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý địa bàn, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và huy động nguồn lực trong Nhân dân.

Việc giảm số lượng thôn giảm số lượng người hoạt động không chuyên trách, giảm chi ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thôn thông qua việc lựa chọn, bố trí những người có năng lực, uy tín tham gia công tác ở khu dân cư. Quy mô thôn lớn hơn cũng tạo thuận lợi trong tổ chức sinh hoạt cộng đồng, hội họp, tuyên truyền, vận động Nhân dân, phát động các phong trào thi đua và triển khai các nhiệm vụ chính trị tại cơ sở.

Phương án sắp xếp cơ bản bảo đảm phù hợp với đặc điểm dân cư, có sự liên kết về vị trí địa lý, điều kiện giao thông, tập quán sinh hoạt, sản xuất và đời sống văn hóa của Nhân dân. Các thôn sau sắp xếp có tính gắn kết cộng đồng cao, đồng thời tạo không gian phát triển rộng hơn, thuận lợi cho việc quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội. Việc mở rộng quy mô thôn cũng giúp nâng cao khả năng huy động nguồn lực xã hội hóa, kêu gọi sự đóng góp của Nhân dân và con em xa quê.

Bên cạnh đó, các thôn có quy mô lớn hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong công tác tạo nguồn, bồi dưỡng và phát triển đảng viên, khắc phục khó khăn về nguồn nhân sự tham gia công tác thôn, các tổ chức tự quản và đoàn thể ở cơ sở. Việc sắp xếp cũng góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, hoạt động của Ban Công tác Mặt trận và các tổ chức đoàn thể; tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền, chất lượng công tác vận động quần chúng, qua đó giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trên địa bàn.

Sau sắp xếp:

+ Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn: giảm 20 người.

+ Số lượng thôn đội trưởng, y tế thôn: giảm 24 người.

Số lượng người trực tiếp hoạt động về công tác đảng, tổ chức hội, đoàn thể (Phó bí thư, Chi ủy viên, Chi hội trưởng các chi hội ND, PN, CCB, ĐTN, NCT): giảm 72 người.

2. Hiệu quả về giảm chi ngân sách: 

Việc sắp xếp, sáp nhập thôn không chỉ góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý mà còn giúp giảm đáng kể chi ngân sách nhà nước dành cho hoạt động của hệ thống chính trị ở khu dân cư. Tổng kinh phí giảm chi ước tính 1.502.280.000 đồng/năm, cụ thể:

Giảm do giảm số lượng người hoạt động không chuyên trách: 575.640.000 đồng.

+ Giảm do giảm số lượng thôn đội trưởng, y tế thôn: 269.568.000 đồng.

Giảm do tổ chức lại các tổ chức, đoàn thể thôn (Phó bí thư, Chi ủy viên Chi bộ, chi hội trưởng các chi đoàn, chi hội): 657.072.000 đồng.

 

PHẦN THỨ IV

PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNGHOẠT ĐỘNG CỦA THÔN MỚI

 

1. Về số lượng

Sau khi sáp nhập toàn xã Thạch Xuân có 10 thôn (Chi tiết phụ lục kèm theo).

2. Về tổ chức

Theo Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, ngày 26/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phốsố lượng những người hoạt động không chuyên trách ở thôn được bố trí 03 người gồm các chức danh: Bí thư chi bộ, Trưởng thôn và Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn.

3. Về tổ chức thực hiện

Sau khi có chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh  sự thống nhất của Thường trực Đảng ủy, HĐND, triển khai lấy ý kiến nhân dân; UBND xã Thạch Xuân kính trình Đề án sắp xếp, sáp nhập thôn để HĐND xã Thạch Xuân xem xét thông qua và ban hành Nghị quyết quyết định.

Sau khi có Nghị quyết của HĐND xã, UBND xã Thạch Xuân sẽ xây dựng Kế hoạch triển khai việc chỉ định trưởng thôn lâm thời theo quy định của pháp luật; phối hợp các đơn vị liên quan kiện toàn các chức danh người hoạt động không chuyên trách khác theo quy định.

Trên đây là Dự thảo Đề án sắp xếp các thôn trên địa bàn xã Thạch Xuân. UBND xã Thạch Xuân kính trình HĐND xã Thạch Xuân xem xét, quyết định./.

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Tiêu chuẩn của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố

Điều 7 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định rõ tiêu chuẩn của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố. 09/06/2026